|
OXYTOCICS
Các thuốc thúc đẻ
Lịch sử:
Gây chuyển dạ bằng thuốc thường được cân nhắc cho một số chứng bệnh của mẹ hoặc
thai nhi. Các thuốc thúc đẻ làm tǎng sức mạnh, thời gian và tần số co tử
cung, do đó giúp cho chuyển dạ. Về mặt lịch sử, các alkaloid của lúa mạch đă
được sử dụng để khởi đầu hoặc đẩy nhanh cuộc đẻ. Ergonovin được phép dùng làm
thuốc thúc đẻ nǎm 1945, tiếp theo là methylergonovin nǎm 1946. Cả hai dạng
ergonovine tiêm và uống hiện đều không c̣n được sản xuất. Vai tṛ của
methylergonovin được giới hạn trong thời kỳ hậu sản. Oxytocin, được cấp phép nǎm
1962, đă trở thành thuốc lư tưởng hầu hết các trường hợp gây chuyển dạ. Nǎm
1977, prostaglandin E2, c̣n gọi là dinoproston, được giới thiệu ở
dạng dùng tại chỗ để hỗ trợ việc gây chuyển dạ. Liều lớn hơn, trong các thuốc
đặt âm đạo, được dùng để gây sẩy thai.
Cơ chế
hoạt động: Tất cả các thuốc thúc đẻ đều
làm tǎng biên độ và tần số co tử cung. Ergonovin kích thích có chọn lọc
tế bào cơ trơn của tử cung và hệ mạch, gây những cơn co mạnh, tiếp theo là đột
giăn. Liều thuốc cao hơn có thể kéo dài những cơn co này và xoá sạch những đột
giăn. Oxytocin kích thích có chọn lọc tế bào cơ trơn của tử cung bằng cách nâng
cao tính thấm natri của màng xơ cơ, sinh ra những cơn co tử cung nhịp nhàng. Đáp
ứng của tử cung với oxytocin tǎng trong 3 tháng cuối. Chưa rơ cơ chế hoạt động
của dinoprostone, nhưng người ta tin rằng nó tham gia vào điều hoà vận chuyển
can xi qua màng tế bào cũng như nồng độ adenosine monophosphate ṿng 3’, 5 '
trong tế bào. Kết quả của tác động này là dinoprostone gây co tử cung thông qua
kíc thích cơ trơn ở tử cung.
Không
giống oxytocin, Ergonovine tǎng hoạt tính cổ tử cung, dẫn tới tǎng cơn co cổ tử
cung. Oxytocin và dinoproston làm giảm cứng cổ tử cung, gây giăn cổ tử cung.
Biên độ và tần số cơn co tử cung tǎng do oxytocin gây cản trở chút ít lưu lượng
máu ở tử cung. Có thể xảy ra hiện tượng cầm máu do ergonovin gây cơn co của
thành tử cung quanh các mạch đang chảy máu.
Các đặc
điểm phân biệt/Các phản ứng có hại: Các
thuốc thúc đẻ khác nhau về cơ chế hoạt động và những phản ứng có hại. Như
các dẫn xuất alkaloid của lúa mạch khác, ergonovin gây co mạch, chủ yếu ảnh
hưởng đến các tĩnh mạch. Dùng ergonovin có thể làm tǎng áp lực tĩnh mạch trung
tâm và tǎng huyết áp.
Oxytocin
cũng gây co các tế bào biểu mô cơ quanh các ống tuyến vú, kích thích tiết sữa.
Nếu không có oxytocin, th́ sẽ không có phản xạ tiết sữa. Ergonovin có thể làm
giảm nồng độ prolactin huyết thanh trong thời kỳ hậu sản.
Dinoproston kích thích cơ trơn của đường tiêu hoá, điều này lư giải tại sao nôn
và/hoặc ỉa chảy hay xảy ra khi dùng thuốc. Tǎng thân nhiệt (sốt thoáng qua) do
dinoprostone cũng có thể xuất hiện ở bệnh nhân dùng thuốc, nhưng nhiệt độ sẽ trở
lại b́nh thường sau khi ngừng thuốc. Chưa rơ sốt xảy ra theo cơ chế nào.
|