Barbiturat
Cephalosporin
Chống trầm cảm dị ṿng
Các aminoglycosid
Các chất Benzodiazepin
Các chất chẹn alpha
Các chất chẹn H1
Các chất chẹn H2
Các chất chống chuyển hóa
Các chất chống động vật đơn bào
Các chất chủ vận opiat
Các chất làm tǎng thể tích huyết tương
Các chất làm tǎng thể tích huyết tương
Các chất ức chế catecholamin
Các chất ức chế glycoprotein (GP) IIB/IIIA tiểu cầu
Các chất ức chế men chuyển angiotensin (các chất ức chế ACE)
Các chất ức chế protease kháng retrovirus
Các chất ức chế serotonin có chọn lọc (SSRI)
Các corticosteroid
Các quinolon
Các quinolon
Các sulfonylurea
Các tetracyclin
Các thuốc chẹn beta
Các thuốc chống cao huyết áp
Các thuốc chống cao huyết áp
Các thuốc chống gút
Các thuốc chống loạn nhịp nhóm III
Các thuốc chống loạn nhịp nhóm IV
Các thuốc chống tǎng lipid máu
Các thuốc chống tǎng nhăn áp
Các thuốc chống viêm đường hô hấp
Các thuốc giả phó giao cảm
Các thuốc giả phó giao cảm
Các thuốc hô hấp
Các thuốc hô hấp
Các thuốc hỗ trợ nhu động
Các thuốc kích thích tạo máu
Các thuốc liên quan đến đông máu
Các thuốc làm tǎng co cơ
Các thuốc thúc đẻ
Các thuốc thúc đẻ
Các thuốc tuyến giáp
Các thuốc tuyến giáp
Các thuốc ức chế oxid monoamin (MAOIs)
Các tác nhân alkyl hóa
Các Vitamin
Globulin miễn dịch
Macrolid
New Page 1
New Page 1
New Page 2
New Page 2
New Page 2
NHÖƠNG VAÁN ÑEÀ LIEÂN QUAN ÑEÁN DÖÔÏC PHAÅM
NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN DƯỢC PHẨM
NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN DƯỢC PHẨM
NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN DƯỢC PHẨM
Penicillin
Shared Bottom Border
Shared Left Border
Shared Right Border
Shared Top Border
Sulfonamid
THUỐC AN THẦN
THUỐC BỔ
THUỐC BỔ SUNG KHOÁNG CHẤT
THUỐC CHẤT LÀM SE
THUỐC CHẸN BÊTA
THUỐC CHỐNG CAO HUYẾT ÁP
THUỐC CHỐNG CO THẮT
THUỐC CHỐNG GIUN SÁN
THUỐC CHỐNG LO ÂU
THUỐC CHỐNG LOẠN NHỊP TIM
THUỐC CHỐNG NÔN
THUỐC CHỐNG NẮNG
THUỐC CHỐNG RỐI LOẠN TÂM THẦN
THUỐC CHỐNG THẤP KHỚP
THUỐC CHỐNG TIÊU CHẢY
THUỐC CHỐNG TIẾT CHOLINE
THUỐC CHỐNG TIẾT MỒ HÔI
THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM
THUỐC CHỐNG UNG THƯ
THUỐC CHỐNG ĐỘNG KINH
THUỐC CÓ BỌC NGOÀI BẢO  VỆ
THUỐC CẦM MÁU
THUỐC Digitalis
THUỐC DÙNG TRONG KHI MANG THAI
THUỐC DỊÊT TINH TRÙNG
THUỐC GIĂN CƠ
THUỐC GIĂN MẠCH
THUỐC GIĂN PHẾ QUẢN
THUỐC GIẢI ĐỘC
THUỐC GIẢM SUNG HUYẾT
THUỐC GIẢM ĐAU
THUỐC GÂY NÔN
THUỐC GÂY SUNG HUYẾT DA
THUỐC GÂY VÔ CẢM
THUỐC GÂY ĐỘC TẾ BÀO
THUỐC GÂY ẢO GIÁC
THUỐC HO
THUỐC HUỶ GIAO CẢM
THUỐC HƯỚNG TÂM THẦN
THUỐC HẠ LIPID MÁU
THUỐC HẠ ĐƯỜNG HUYẾT UỐNG
THUỐC HỒI SỨC
THUỐC KHÁNG ACID
THUỐC KHÁNG CHOLINE
THUỐC KHÁNG Histamine
THUỐC KHÁNG HUYẾT THANH
THUỐC KHÁNG KHUẨN
THUỐC KHÁNG NẤM
THUỐC KHÁNG NỌC ĐỘC NỘI TIẾT TỐ
THUỐC KHÁNG NỌC ĐỘC NỘI TIẾT TỐ
THUỐC KHÁNG NỘI TIẾT TỐ
THUỐC KHÁNG SINH
THUỐC KHÁNG THỤ THỂ Hiostamione 2
THUỐC KHÁNG VIRUS
THUỐC KHÁNG VIÊM
THUỐC KHÁNG VIÊM KHÔNG Steroid
THUỐC KHÁNG ĐÔNG
THUỐC KHÁNG ĐỘC TỐ
THUỐC KÍCH DỤC
THUỐC KÍCH THÍCH
THUỐC KÍCH THÍCH MIỄN DỊCH
THUỐC KÍCH THÍCH ĂN NGON
THUỐC LONG ĐỜM
THUỐC LÀM MỀM DA
THUỐC LÀM RỤNG LÔNG TÓC
THUỐC LÀM TAN CỤC MÁU ĐÔNG
THUỐC LỢI TIỂU
THUỐC MỠ
THUỐC NGHIỆN
THUỐC NGỦ
THUỐC NGỪA THAI UỐNG
THUỐC NHUẬN TRƯỜNG
THUỐC NHÓM ORPHAN
THUỐC NHỎ MẮT
THUỐC PHIỆN
THUỐC PHỐI HỢP
THUỐC SINH TỐ
THUỐC STEROID
THUỐC STEROID ĐỒNG HOÁ
THUỐC SULFONAMIDE
THUỐC SÁT TRÙNG
THUỐC SÚC RỬA MIỆNG
THUỐC TIÊM TÁC DỤNG CHẬM
THUỐC VIÊN NANG
THUỐC VÀ THỂ THAO
THUỐC XOA
THUỐC ĐIỀU TRỊ LOÉT  TÁ TRÀNG
THUỐC ĐIỀU TRỊ VÔ SINH
THUỐC ỨC CHẾ ACE
THUỐC ỨC CHẾ CALCI
THUỐC ỨC CHẾ MIỄN DỊCH
THUỐC ỨC CHẾ ĂN NGON
THUỐC, BĂNG DÁN DA
THUỐC, LẠM DỤNG
THUỐC, LỆ THUỘC
THUỐC, QUEN THUỐC
THUỐC, TÁC DỤNG PHỤ
THUỐC,  GIẢ DƯỢC (placebo)
THUỐC  CHỦNG NGỪA
Thuốc chẹn kênh canxi
Thuốc chống lao
Thuốc chống loét dạ dày
Thuốc chống loạn nhịp nhóm I
Thuốc chống loạn nhịp nhóm II
Thuốc chống loạn thần
Thuốc chống nấm
Thuốc chống trầm cảm 3 ṿng
Thuốc chủ vận và đối kháng opiate
Thuốc chủ vận và đối kháng opiate
Thuốc gây tê tại chỗ
Thuốc kháng virus
Thuốc làm tan huyết khối
Thuốc lợi tiểu
Thuốc nhuận tràng và thuốc chống táo bón
Thuốc sản khoa
Thuốc tránh thai
Thuốc ức chế miễn dịch

 

COAGULATION AGENTS
Các thuốc liên quan đến đông máu

Lịch sử: Heparin được phát hiện vào nǎm 1916. Sau đó ít lâu, nǎm 1924, dicumarol được xác định là tác nhân gây chảy máu ở gia súc ǎn cỏ ba lá ngọt bị thối, và sau đó, nǎm 1948, một dẫn xuất coumarin là warfarin được tổng hợp để làm chất diệt loài gặm nhấm.

Từ đó, warfarin trở thành chất chống đông đường uống được sử dụng rộng răi nhất và vẫn là liệu pháp lư tưởng để điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu cấp và tắc mạch phổi cấp.

Mặc dù thử nghiệm đầu tiên của liệu pháp làm tan huyết khối được công bố nǎm 1959, măi tới cuối thập kỷ 70 người ta mới nghiên cứu phương pháp làm tan huyết khối nội mạch vành bằng streptokinase. Chất hoạt hóa plasminogen mô tái tổ hợp được nghiên cứu trên lâm sàng lần đầu tiên nǎm 1983. Nhiều thử nghiệm trong 10 nǎm trở lại đây đă xác định vai tṛ của chất chống đông tiêm tĩnh mạch đối với nhồi máu cơ tim cấp. Ngày nay nhiều trung tâm y tế đă có khả nǎng dùng chất chống đông nội động mạch trong phẫu thuật và/hoặc X quang can thiệp để làm tan cục máu đông gây tắc các động mạch lớn và mảnh ghép.

Trong những nǎm 1990, nhiều chế phẩm heparin trong lượng phân tử thấp (LMWH) và chế phẩm dạng heparin hoặc đă được cho phép sử dụng trong lâm sàng hoặc vẫn đang được nghiên cứu. Ardeparin, dalteparin và enoxaparin là tiêu biểu cho các LMWH. Ardeparin hiện đang được nghiên cứu; dalteparin và enoxaparin lần lượt được cấp phép nǎm 1993 và 1994. Danaparoid là một heparinoid đại diện cho nhóm glycosaminoglycan có hoạt tính giống heparin. LMWH được điều chế bằng cách khử trùng hợp heparin chuẩn thành những đoạn nhỏ hơn. LMWH được sử dụng rộng răi ở châu Âu để pḥng và điều trị bệnh huyết khối tắc mạch nhưng ở Mỹ, việc sử dụng chỉ hạn chế ở pḥng ngừa huyết khối tắc mạch trong phẫu thuật tạo h́nh. Nhóm thuốc chống đông này có tiềm nǎng đáng chú ư trong điều trị ngoại trú bệnh huyết khối tĩnh mạch sâu cấp với các nghiên cứu lâm sàng sâu hơn. Các thuốc chống đông khác đang được nghiên cứu bao gồm hirudin, đồng phân hóa trị 2 của nó là bivalirudin.

Các chất chống tiểu cầu gồm abciximab, aspirin, dipyridamol, các chất chống viêm phi steroid, và ticlopidin. Trong 5-10 nǎm qua, hiệu quả lâm sàng của aspirin và dipyridamol đă được xác định rơ hơn. Aspirin đă dần dần đóng vai tṛ quan trọng của một chất ức chế kết tập tiểu cầu trong khi dipyridamol bị xem là kém hiệu quả hơn nhiều. Sulfinpyrazon, đă có lúc được coi là rất có lợi trong ngǎn ngừa nhồi máu cơ tim cấp, th́ nay lại bị thay thế bằng aspirin liều thấp. Nǎm 1991, ticlopidin được cấp phép nhưng việc sử dụng chỉ hạn chế ở pḥng ngừa đột quị tiên phát hoặc thứ phát. Các chất ức chế tiểu cầu đối kháng thụ thể fibrinogen (chất đối kháng GPTIIb-IIIa) là nhóm thuốc chống đông máu mới nhất. Chất đầu tiên của nhóm hợp chất này là abciximab, được cấp phép nǎm 1994. Integrelin (tm) hiện đang được FDA xem xét.

Một số chế phẩm đă có trên thị trường nhằm duy tŕ t́nh trạng đông máu b́nh thường của cơ thể hoặc đảo ngược hoạt tính lâm sàng của các chất chống đông, một số là những thuốc đă được sử dụng nhiều nǎm trên lâm sàng. Các thuốc này gồm: acid aminocaproic (1964), protamine (1948), thrombin (1994) và vitamin K (1940). Trong thập kỷ 70, yếu tố VIII đă được sản xuất ở dạng thương phẩm, tiếp đó là yếu tố IX trong thập kỷ 80. Nǎm 1993 aprotinin, thuốc được chỉ định để ngǎn ngừa xuất huyết trong CABG được cấp phép sử dụng.

Cơ chế tác dụng: quá tŕnh đông máu là sự tương tác phức tạp của các tế bào, protein và các hormon tại chỗ. Đầu tiên, thành mạch bị tổn thương giải phóng thromboxan kích thích kết tập tiểu cầu. Sự h́nh thành "nút " tiểu cầu là giai đoạn đầu tiên trong hai giai đoạn riêng biệt của quá tŕnh h́nh thành cục máu đông, và có lẽ là giai đoạn chủ yếu làm ngừng chảy máu. Giai đoạn hai bao gồm một chuỗi phản ứng phối hợp sản sinh thrombin, thrombin xúc tác chuyển fibrinogen thành fibrin. Các tế bào hồng cầu dính vào lưới fibrin cuối cùng h́nh thành cục máu đông thực sự. Nói chung, huyết khối tĩnh mạch gồm có fibrin và các tế bào hồng cầu, trong khi huyết khối động mạch được h́nh thành từ sự kết tập tiểu cầu.

Mỗi giai đoạn của quá tŕnh đông máu có một cơ chế riêng. Bởi v́ người ta cho rằng huyết khối động mạch được h́nh thành thông qua trung gian kết tập tiểu cầu, c̣n huyết khối tĩnh mạch chủ yếu dựa trên các đợt đông máu, điều trị thuốc đối với các trạng thái bệnh lư đặc hiệu khác nhau tùy theo vị trí trong hệ tuần hoàn. Các thuốc chống kết tập tiểu cầu được dùng để ngǎn ngừa huyết khối động mạch, c̣n các thuốc chống đông được sử dụng để ngǎn ngừa huyết khối tĩnh mạch. V́ hệ thống đông máu quá phức tạp, nhiều thuốc có khả nǎng tác động tới một hay nhiều chu tŕnh.

Giống như hầu hết các quá tŕnh sinh lư trong cơ thể cũng tồn tại, một hệ thống song song ức chế kết tập tiểu cầu, và quá tŕnh này cũng qua trung gian là một prostaglandin nội mạc mạch: prostacyclin. Trong khi thromboxan kích thích kết tập tiểu cầu th́, prostacyclin lại là một chất ức chế kết tập tiểu cầu mạnh (gấp 1000 lần adenosin). aspirin và các thuốc chống viêm phi steroid có thể cản trở kết tập tiểu cầu thông qua khả nǎng ức chế tổng hợp prostaglandin tiểu cầu là thromboxan. Người ta cho rằng, với liều thấp hơn, aspirin chỉ ức chế thromboxan, nhưng ở liều cao hơn, thuốc ảnh hưởng tới sự tổng hợp cả 2 dạng prostaglandin. Trong khi tác dụng của aspirin đối với sản sinh prostaglandin tiểu cầu tồn tại trong suốt thời gian sống của tiểu cầu, th́ tác dụng của các NSAID lại liên quan tới khoảng thời gian tác dụng của thuốc NSAID. Sulfinpyrazone là một NSAID đă từng được sử dụng v́ thuốc có khả nǎng ức chế kết tập tiểu cầu, nhưng ngày nay thuốc ít được dùng cho mục đích này.

Abciximab, dipyridamol, và ticlopidin cũng ức chế sự kết tập tiểu cầu nhưng bằng những cơ chế khác. Abciximab và ticlopidine can thiệp vào quá tŕnh kết tập tiểu cầu bằng cách cản trở sự gắn kết của fibrinogen vào các thụ thể tiểu cầu. ít nhất người ta đă xác định được 2 dạng vị trí thụ thể adenosine diphosphate trên tiểu cầu và ticlopidin, c̣n đồng phân của nó clopidogrel, h́nh như gắn chặt vào thụ thể trung gian ức chế adenyl cyclase. Dipyridamol tác động lên AMP ṿng, do đó làm giảm hoạt tính của thromboxan A2, một chất kích thích kết tập tiểu cầu. Hiệu lực của Dipyridamol trên AMP ṿng đạt được thông qua a/ ức chế phosphodiesterase, enzyme chuyển hóa AMP ṿng và b/ tǎng prostacyclin, qua đó kích thích adenyl cyclase, enzym sinh AMP ṿng.

Tuy nhiên, tác dụng của dipyridamole đối với kết tập tiểu cầu kém aspirin rơ rệt. Ticlopidin chỉ được phép sử dụng trong đột quị và có nguy cơ giảm bạch cầu trung tính, trong khi abciximab lại không thể dùng theo đường uống. V́ thế aspirin liều thấp là chất chống tiểu cầu được ưa chuộng.

Một số thuốc cản trở sự hoạt hóa liên tục các protein đông máu. Warfarin ức chế vitamin K, là vitamin cần thiết để sinh ra các yếu tố đông máu hoạt hóa. Heparin và các LMWH gắn với antithrombin III (AT III) do đó tǎng khả nǎng của AT III làm bất hoạt một số yếu tố đông máu, gồm yếu tố IIa (thrombin), Xa, và IXa. Vitamin K rất cần thiết cho việc sản sinh b́nh thường một số yếu tố đông máu trong gan. Khi có mặt của warfarin, gan sản sinh yếu tố đông máu II, VII, IX và X, giảm 30% khả nǎng đông máu. Các chế phẩm LMWH khác nhau có khả nǎng làm bất hoạt thrombin và yếu tố Xa khác nhau.

Các LMWH (dalteparin, enoxaparin) tác động chủ yếu bằng cách ức chế yếu tố Xa và ít có khả nǎng bất hoạt thrombin. Hirudin là chất ức chế thrombin trực tiếp, đóng vai tṛ một chất kháng thrombin III độc lập. Vitamin K được dùng để đảo ngược tác dụng của warfarin, trong khi protamin lại trung ḥa heparin trong máu. Huyết tương tươi đông lạnh (FFP) có thể được dùng để đảo ngược tác dụng của tất cả các chất chống đông. Mặc dù có tên gọi gợi ra khả nǎng thay thế cho FFP, phân đoạn protein huyết tương không chứa các protein đông máu và do đó không phải là liệu pháp thích hợp để điều trị giảm prothrombin máu.

Cơ thể cũng duy tŕ quá tŕnh tiêu cục máu đông (ví dụ: tiêu fibrin) sau khi chúng h́nh thành. Nhiều thuốc làm tan huyết khối phát động quá tŕnh này trong khi nhiều thuốc khác lại đối kháng quá tŕnh tiêu fibrin. Tất cả các thuốc làm tan huyết khối tác động bằng cách hoạt hóa plasmin, kết quả là làm tiêu fibrin trong cục máu đông. Hơn nữa, plasmin lại phân cắt fibrinogen, yếu tố V và yếu tố VIII. Các mảnh fibrin và fibrinogen (sản phẩm giáng hóa) có thể ngǎn ngừa sự h́nh thành cục máu đông. Plasmin tǎng cũng cản trở chức nǎng b́nh thường của tiểu cầu và hạn chế hơn nữa quá tŕnh đông máu b́nh thường. V́ thế bệnh nhân đang dùng các thuốc làm tan cục máu đông tiêm tĩnh mạch bị gọi là có "có t́nh trạng giảm khả nǎng đông máu" toàn thân.

Acid aminocaproic có thể đối kháng tác dụng tiêu fibrin của các thuốc làm tan cục máu đông. Acid aminocaproic làm ngừng sự phá vỡ cục máu đông bằng cách ức chế các chất hoạt hóa plasminogen, trong khi aprotinin ngǎn ngừa tiêu fibrin bằng cách ức chế plasmin và kallikrein.

Cuối cùng, các yếu tố đông máu đặc trưng dạng thương phẩm được dùng khi cơ thể bị thiếu hụt. Yếu tố VIII là một yếu tố đông máu cần thiết cho quá tŕnh đông máu b́nh thường. Nó thay thế tạm thời cho yếu tố này ở bệnh nhân bị bệnh ưa chảy máu (hemophilia).

Yếu tố VIII chuyển prothrombin thành thrombin, trong khi bản thân thrombin là một chất cầm máu, điển h́nh trực tiếp chuyển fibrinogen thành fibrin.

Đặc điểm phân biệt: Nói chung, aspirin và ticlopidin là những chất chống tiểu cầu hiệu quả hơn dipyridamol. Ticlopidin chỉ sử dụng hạn chế ở bệnh nhân chống chỉ định dùng aspirin (dị ứng) hoặc điều trị aspirin thất bại do ticlopidin có nhiều tác dụng phụ. Ticlopidin có tỷ lệ tác dụng phụ tiêu hoá cao và có thể gây giảm đáng kể bạch cầu trung tính. 1/5 bệnh nhân phải ngừng thuốc v́ tác dụng có hại. Ticlopidin cũng đắt hơn đáng kể so với aspirin.

Dipyridamole chỉ được khuyên dùng làm thuốc chống tiểu cầu ở bệnh nhân lắp van tim nhân tạo, bị tắc mạch toàn thân khi dùng warfarin hoặc không dung nạp aspirin.

Abciximab, một chất ức chế tiểu cầu khác, chỉ có ở dạng tiêm tĩnh mạch, có tác dụng ngǎn ngừa thiếu máu cục bộ và tắc mạch vành và được dùng làm thuốc bổ trợ trong phẫu thuật tạo h́nh mạch vành qua da hoặc phẫu thuật cắt bỏ khớp. Abciximab được dùng phối hợp với aspirin và heparin. Không giống các thuốc chống tiểu cầu khác, abciximab có nguy cơ đáng kể gây giảm tiểu cầu và chảy máu.

Heparin tiêm tĩnh mạch, tiếp theo là warfarin được coi là phác đồ lư tưởng điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu cấp và tắc mạch phổi cấp. Warfarin cũng là thuốc lư tưởng để pḥng ngừa đột quị cho bệnh nhân rung nhĩ, rối loạn chức nǎng thất nặng và bệnh van tim. Các bệnh nhân này có nguy cơ cao bị huyết khối tắc mạch cần điều trị suốt đời. Có thể sớm nhận định rằng các LMWH sẽ là bước tiến bộ rơ rệt so với heparin hoặc warfarin đáng kể do số lần dùng ít hơn heparin và không cần theo dơi cận lâm sàng.

Để ngǎn ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu, thuốc chống đông tối ưu phụ thuộc vào mức độ nguy cơ và chẩn đoán. Đối với bệnh nhân có nguy cơ vừa phải (đại phẫu, trên 40 tuổi). LDUH (heparin không phân đoạn liều thấp) hoặc LMWH (heparin trọng lượng phân tử thấp) là những phác đồ hiệu quả nhất. Bệnh nhân có nguy cơ cao (đại phẫu, trên 40 tuổi, có thêm các yếu tố nguy cơ khác) cần ép khí ngắt quăng và LDUH hoặc LMWH. Đối với thay khớp háng toàn bộ hoặc phẫu thuật khớp háng, LMWH hoặc warfarin (INR 2,0 tới 3,0) được khuyên dùng để pḥng ngừa. LDUH có hiệu quả đối với các bệnh nhân nội khoa có các yếu tố nguy cơ, nhồi máu cơ tim, đột quị do thiếu máu cục bộ kèm theo liệt chi dưới. LMWH sử dụng hiệu quả cho phẫu thuật tạo h́nh toàn bộ khớp gối, bệnh nhân nội khoa có các yếu tố nguy cơ, đột quị do thiếu máu cục bộ kèm liệt chi dưới hoặc chấn thương tủy sống cấp kèm theo liệt.

Để chống đông dài ngày, warfarin được ưa chuộng hơn heparin v́ heparin phải dùng đường tiêm. Heparin có thể ưu việt hơn ở bệnh nhân có thai hoặc bệnh nhân thiếu hụt protein C hoặc protein S. Warfarin cũng hay tương tác với các thuốc khác hơn heparin. Cần theo dơi cẩn thận bệnh nhân dùng warfarin bất kỳ khi nào chức nǎng gan các phác đồ thuốc kèm theo, mức độ hoạt động, hoặc chế độ ǎn của bệnh nhân bị thay đổi.

Để xử trí nhồi máu cơ tim cấp, liều heparin tĩnh mạch rất được khuyến nghị ở tất cả các bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim cấp hoặc đau thắt ngực không ổn định. Tất cả các thuốc làm tan huyết khối hiện có (streptokinase-SK, alteplase-tPA, hoặc anistrplase-APSAC) đều làm giảm tử vong do nhồi máu cơ tim cấp. Đối với bệnh nhân dưới 75 tuổi và đến bệnh viện trong ṿng 6 giờ đầu, tỷ lệ tử vong và đột quị khi dùng tPA thấp hơn so với streptokinase. Nếu bệnh nhân bị dị ứng đối với SK hoặc APSAC hoặc đă dùng một trong hai thuốc này trước đó, th́ tPA là thuốc thay thể lư tưởng. Đối với tất cả các bệnh nhân khác, không có sự khác biệt giữa tPA, SK hoặc APSAC trong điều trị nhồi máu cơ tim cấp khi dùng thuốc trong ṿng 6 giờ sau triệu chứng ban đầu. Streptokinase rẻ tiền nhất. Heparin cũng được khuyến nghị dùng trong tạo h́nh mạch vành và đặt stent, tuy nhiên, việc dùng heparin sau thủ thuật không có lợi và có thể làm tǎng biến chứng chảy máu.

Để cầm máu, các biện pháp bao gồm acid aminocaproic, aprotinin, FFP, phytonadion, protamin, và thrombin. Trong các thuốc cầm máu, aprotinin có chỉ định đặc biệt. Thuốc có tác dụng làm giảm mất máu ở bệnh nhân phẫu thuật nối tắt mạch vành. Chi phí đáng kể của thuốc cho thấy nên để dành thuốc này cho các bệnh nhân có nguy cơ chảy máu đặc biệt cao. Acid aminocaproic được dùng điều trị chảy máu do chứng tǎng tiêu sợi huyết toàn thân. Thuốc có cả dạng uống và tiêm. Trong khi aprotinin được dung nạp tốt th́ acid aminocaproic lại có nhiều tác dụng phụ gồm hạ huyết áp, bệnh cơ, ảnh hưởng đến thần kinh trung ương và kích ứng dạ dày ruột. Chỉ khi cần cầm máu tại chỗ, người ta mới dùng thrombin, mặc dù cũng có thể bôi acid aminocaproic tại chỗ để cầm máu ở lợi cho bệnh nhân bị chứng ưa chảy máu khi nhổ rǎng. Thrombin thực sự không có tác dụng phụ khi dùng để cầm máu, mặc dù đă có báo cáo về dị ứng. Phytonadion và protamin được dùng điều trị xuất huyết do warfarin và heparin, nhưng FFP lại cần cho chảy máu nặng.

Các phản ứng có hại: Tác dụng có hại hay gặp và khó khắc phục nhất của các thuốc chống đông và làm tan huyết khối là chảy máu. Nguy cơ chảy máu khi điều trị bằng warfarin tǎng khi INR cao, tuổi trên 65, rung nhĩ, tiền sử đột quị, tiền sử chảy máu đường tiêu hóa, dùng cùng với liệu pháp kháng tiểu cầu, và các bệnh nặng đi kèm như rối loạn chức nǎng thận.

Nguy cơ chảy máu khi điều trị bằng heparin tǎng khi tǎng liều, mới bị chấn thương hay phẫu thuật, sử dụng đồng thời aspirin hoặc thuốc làm tan huyết khối và suy thận. Đối với điều trị dự pḥng, LMWH, dùng 1-2 lần/ ngày có tỷ lệ chảy máu tương đương UFH liều thấp 5000 đơn vị 8 giờ một lần, nhưng ít chảy máu hơn UFH liều 7500đơn vị12 giờ một lần.

Các ảnh hưởng có hại khác của warfarin gồm hoại tử da và dị dạng bẩm sinh nặng. Hai ảnh hưởng có hại đáng chú ư khác của heparin là loăng xương và giảm tiểu cầu.

Các tác dụng phụ chủ yếu của các thuốc làm tan huyết khối là chảy máu, dị ứng (streptokinase, anistreplase), tụt huyết áp, loạn nhịp tim, nhồi máu cơ tim tái phát và đau thắt ngực. Hội nghị liên ứng ACCP đă tuyên bố những chống chỉ định tuyệt đối của liệu pháp gồm làm tan huyết khối bao gồm phẫu thuật động mạch chủ, viêm màng ngoài tim cấp, chảy máu cấp, xuất huyết năo cũ, bệnh mạch máu năo và ung thư năo. Chống chỉ định tương đối gồm ổ xuất huyết trong ṿng 6 tháng trước (xuất huyết tiêu hóa, xuất huyết đường sinh dục tiết niệu hoặc đột quị); chấn thương trong ṿng 2-4 tuần trước đại phẫu, sinh thiết tạng, chèn ép ngực, thủng mạch máu lớn, chấn thương lớn, chấn thương sọ năo nhẹ), bệnh vơng mạch tǎng sinh do đái tháo đường, cao huyết áp nghiêm trọng không được kiểm soát (huyết áp tâm thu lớn hơn 200mm Hg và/hoặc huyết áp tâm trương lớn hơn 120mm Hg), tiền sử chảy máu tạng, rối loạn chức nǎng gan, ung thư và có thai.

Đối với thuốc chống tiểu cầu, cả aspirin và ticlopidin đều gây nhiễm độc máu nhưng giảm bạch cầu trung tính là mối lo ngại lớn khi dùng ticlopidin.

Các tác dụng phụ của yếu tố đông máu VIII gồm phản ứng dị ứng. Các tác dụng phụ của FFP gồm: phản ứng dị ứng, hạ huyết áp và quá tải ở mạch máu.