Barbiturat
Cephalosporin
Chống trầm cảm dị ṿng
Các aminoglycosid
Các chất Benzodiazepin
Các chất chẹn alpha
Các chất chẹn H1
Các chất chẹn H2
Các chất chống chuyển hóa
Các chất chống động vật đơn bào
Các chất chủ vận opiat
Các chất làm tǎng thể tích huyết tương
Các chất làm tǎng thể tích huyết tương
Các chất ức chế catecholamin
Các chất ức chế glycoprotein (GP) IIB/IIIA tiểu cầu
Các chất ức chế men chuyển angiotensin (các chất ức chế ACE)
Các chất ức chế protease kháng retrovirus
Các chất ức chế serotonin có chọn lọc (SSRI)
Các corticosteroid
Các quinolon
Các quinolon
Các sulfonylurea
Các tetracyclin
Các thuốc chẹn beta
Các thuốc chống cao huyết áp
Các thuốc chống cao huyết áp
Các thuốc chống gút
Các thuốc chống loạn nhịp nhóm III
Các thuốc chống loạn nhịp nhóm IV
Các thuốc chống tǎng lipid máu
Các thuốc chống tǎng nhăn áp
Các thuốc chống viêm đường hô hấp
Các thuốc giả phó giao cảm
Các thuốc giả phó giao cảm
Các thuốc hô hấp
Các thuốc hô hấp
Các thuốc hỗ trợ nhu động
Các thuốc kích thích tạo máu
Các thuốc liên quan đến đông máu
Các thuốc làm tǎng co cơ
Các thuốc thúc đẻ
Các thuốc thúc đẻ
Các thuốc tuyến giáp
Các thuốc tuyến giáp
Các thuốc ức chế oxid monoamin (MAOIs)
Các tác nhân alkyl hóa
Các Vitamin
Globulin miễn dịch
Macrolid
New Page 1
New Page 1
New Page 2
New Page 2
New Page 2
NHÖƠNG VAÁN ÑEÀ LIEÂN QUAN ÑEÁN DÖÔÏC PHAÅM
NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN DƯỢC PHẨM
NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN DƯỢC PHẨM
NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN DƯỢC PHẨM
Penicillin
Shared Bottom Border
Shared Left Border
Shared Right Border
Shared Top Border
Sulfonamid
THUỐC AN THẦN
THUỐC BỔ
THUỐC BỔ SUNG KHOÁNG CHẤT
THUỐC CHẤT LÀM SE
THUỐC CHẸN BÊTA
THUỐC CHỐNG CAO HUYẾT ÁP
THUỐC CHỐNG CO THẮT
THUỐC CHỐNG GIUN SÁN
THUỐC CHỐNG LO ÂU
THUỐC CHỐNG LOẠN NHỊP TIM
THUỐC CHỐNG NÔN
THUỐC CHỐNG NẮNG
THUỐC CHỐNG RỐI LOẠN TÂM THẦN
THUỐC CHỐNG THẤP KHỚP
THUỐC CHỐNG TIÊU CHẢY
THUỐC CHỐNG TIẾT CHOLINE
THUỐC CHỐNG TIẾT MỒ HÔI
THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM
THUỐC CHỐNG UNG THƯ
THUỐC CHỐNG ĐỘNG KINH
THUỐC CÓ BỌC NGOÀI BẢO  VỆ
THUỐC CẦM MÁU
THUỐC Digitalis
THUỐC DÙNG TRONG KHI MANG THAI
THUỐC DỊÊT TINH TRÙNG
THUỐC GIĂN CƠ
THUỐC GIĂN MẠCH
THUỐC GIĂN PHẾ QUẢN
THUỐC GIẢI ĐỘC
THUỐC GIẢM SUNG HUYẾT
THUỐC GIẢM ĐAU
THUỐC GÂY NÔN
THUỐC GÂY SUNG HUYẾT DA
THUỐC GÂY VÔ CẢM
THUỐC GÂY ĐỘC TẾ BÀO
THUỐC GÂY ẢO GIÁC
THUỐC HO
THUỐC HUỶ GIAO CẢM
THUỐC HƯỚNG TÂM THẦN
THUỐC HẠ LIPID MÁU
THUỐC HẠ ĐƯỜNG HUYẾT UỐNG
THUỐC HỒI SỨC
THUỐC KHÁNG ACID
THUỐC KHÁNG CHOLINE
THUỐC KHÁNG Histamine
THUỐC KHÁNG HUYẾT THANH
THUỐC KHÁNG KHUẨN
THUỐC KHÁNG NẤM
THUỐC KHÁNG NỌC ĐỘC NỘI TIẾT TỐ
THUỐC KHÁNG NỌC ĐỘC NỘI TIẾT TỐ
THUỐC KHÁNG NỘI TIẾT TỐ
THUỐC KHÁNG SINH
THUỐC KHÁNG THỤ THỂ Hiostamione 2
THUỐC KHÁNG VIRUS
THUỐC KHÁNG VIÊM
THUỐC KHÁNG VIÊM KHÔNG Steroid
THUỐC KHÁNG ĐÔNG
THUỐC KHÁNG ĐỘC TỐ
THUỐC KÍCH DỤC
THUỐC KÍCH THÍCH
THUỐC KÍCH THÍCH MIỄN DỊCH
THUỐC KÍCH THÍCH ĂN NGON
THUỐC LONG ĐỜM
THUỐC LÀM MỀM DA
THUỐC LÀM RỤNG LÔNG TÓC
THUỐC LÀM TAN CỤC MÁU ĐÔNG
THUỐC LỢI TIỂU
THUỐC MỠ
THUỐC NGHIỆN
THUỐC NGỦ
THUỐC NGỪA THAI UỐNG
THUỐC NHUẬN TRƯỜNG
THUỐC NHÓM ORPHAN
THUỐC NHỎ MẮT
THUỐC PHIỆN
THUỐC PHỐI HỢP
THUỐC SINH TỐ
THUỐC STEROID
THUỐC STEROID ĐỒNG HOÁ
THUỐC SULFONAMIDE
THUỐC SÁT TRÙNG
THUỐC SÚC RỬA MIỆNG
THUỐC TIÊM TÁC DỤNG CHẬM
THUỐC VIÊN NANG
THUỐC VÀ THỂ THAO
THUỐC XOA
THUỐC ĐIỀU TRỊ LOÉT  TÁ TRÀNG
THUỐC ĐIỀU TRỊ VÔ SINH
THUỐC ỨC CHẾ ACE
THUỐC ỨC CHẾ CALCI
THUỐC ỨC CHẾ MIỄN DỊCH
THUỐC ỨC CHẾ ĂN NGON
THUỐC, BĂNG DÁN DA
THUỐC, LẠM DỤNG
THUỐC, LỆ THUỘC
THUỐC, QUEN THUỐC
THUỐC, TÁC DỤNG PHỤ
THUỐC,  GIẢ DƯỢC (placebo)
THUỐC  CHỦNG NGỪA
Thuốc chẹn kênh canxi
Thuốc chống lao
Thuốc chống loét dạ dày
Thuốc chống loạn nhịp nhóm I
Thuốc chống loạn nhịp nhóm II
Thuốc chống loạn thần
Thuốc chống nấm
Thuốc chống trầm cảm 3 ṿng
Thuốc chủ vận và đối kháng opiate
Thuốc chủ vận và đối kháng opiate
Thuốc gây tê tại chỗ
Thuốc kháng virus
Thuốc làm tan huyết khối
Thuốc lợi tiểu
Thuốc nhuận tràng và thuốc chống táo bón
Thuốc sản khoa
Thuốc tránh thai
Thuốc ức chế miễn dịch

 

IMMUNOGLOBULINS
Globulin miễn dịch

1. Lịch sử:

Nǎm 1940 "gamma globulin" (có nghĩa là IgE) được phân lập lần đầu tiên từ máu người bằng quá tŕnh gọi là tách. Điều này thậm chí dẫn đến sử dụng globulin miễn dịch tiêm bắp (IMIGs) đối với miễn dịch thụ động để dự pḥng và điều trị những bệnh do virus (ví dụ viêm gan A) và sau đó vào những nǎm 1950 để điều trị vô gamma globulin huyết. Globulin miễn dịch có thể tiêm tĩnh mạch (tức là IVIGs) được triển khai nǎm 1970 là một thuận tiện hơn, ít đau và là thay thế tác dụng nhanh cho IMIGs. Các quá tŕnh tách ethanol ban đầu được dùng cho IMIGs cần tinh chế nhiều lần (có nghĩa là tách thêm và biến đổi hóa học hoặc làm tinh khiết) cho một sản phẩm tĩnh mạch. Điều này làm tinh khiết IgG nhiều hơn, thêm chất bất hoạt, cung cấp IgG nguyên chất và ngǎn ngừa liên kết chéo các mono IgG. Nǎm 1981, Gamimune (r) do Mile phân lập, là IVIGs đầu tiên được đǎng kư ở Mỹ. Dạng không biến đổi đầu tiên của IVIGs (Sandoglobulin (r) hăng Sandoz) có ở thị trường nǎm 1984. Gamimune (r) được chuyển thành dạng không biến đổi nǎm 1986 và sản phẩm này được đổi tên thành Gamimuner (r) N. Sau đó, một số IVIGs khác được đǎng kư ở Mỹ. Gammagard (r) do (Hyland), Polygam (r) (bởi hội chữ thập đỏ Mỹ) Iveegam (r) (bởi immuno Mỹ) Venoglobulin-I (r) (bởi alpha Therapeutic), và Gammar-IV (r) (bởi armor). Nǎm 1991, IVIGs sản phẩm dạng bột hoà tan lần đầu tiên được chấp nhận (Venoglobulin-S(r)). Nǎm 1994, sau một vụ dịch viêm gan C liên quan đến Gammagard (r), sản phẩm điều chế dạng bột không hoà tan (có nghĩa là Gammagard (r)) và Polygam(r) bị đ́nh chỉ và Gammagard SD(r) và polygam SD (r) được đǎng kư. Nǎm 1980, bệnh nhân dùng miễn dịch để điều trị đối với giảm gamma globulin huyết kèm ban xuất huyết giảm tiểu cầu tự phát (ITP) cho thấy có tǎng số lượng tiểu cầu trong thời gian điều trị. Tiếp theo phát hiện ngẫu nhiên này, việc sử dụng IVIGs cho ITP được nghiên cứu và hiện nay nó được dùng cho chỉ định này. Kể từ khi IVIGs có hiệu quả đối với ITP, chúng tiếp tục được đánh giá về điều trị những bệnh khác với giả định cơ chế tự miễn. Các bác sĩ nên chú ư là hầu hết những dữ liệu ủng hộ việc sử dụng IVIGs đối với bệnh tự miễn (ví dụ bệnh Kawasaki, nhược cơ nǎng, bệnh đa thần kinh huỷ myelin viêm mạn tính, hội chứng Guillain-Barre và cơn co giật khó chữa trị) lấy từ các nghiên cứu không đối chứng hoặc thông báo từ các trường hợp. Không phải tất cả các IVIGs có dán nhăn chỉ định như nhau. Các chỉ định được thừa nhận (đối với bất cứ sản phẩm có tên thương mại được chấp nhận) bao gồm suy giảm miễn dịch tiên phát, (ITP), xuất huyết do giảm tiểu cầu tự phát, ngǎn ngừa nhiễm khuẩn thụ động ở bệnh nhân có bạch cầu lympho mạn tính tế bào B (CLC), bệnh Kawasaki, ngǎn ngừa nhiễm khuẩn thụ động ở trẻ em có AIDS và bệnh nhân thực hiện ghép tuỷ xương (BMT) để ngǎn ngừa bệnh vật chủ không chấp nhận mảnh ghép. Các chỉ dẫn không được dán nhăn gồm rất nhiều các rối loạn tự miễn dịch, ngǎn ngừa nhiễm khuẩn chu sinh và ngǎn ngừa và điều trị nhiễm cytomegalovirus trong ghép tạng đặc và tuỷ xương.

2. Cơ chế tác dụng:

ở bệnh nhân có suy giảm miễn dịch thứ phát và tiên phát, tác dụng có lợi của IVIGs là được giả định qua việc thay thế thiếu hụt hoặc loạn chức nǎng IgG. IVIGs cung cấp kháng thể dự trữ với các tác nhân gây bệnh thông thường ở môi trường. Tuy nhiên cơ chế của IVIGs đối với bệnh tự miễn dịch là không rơ ràng. Liều cao IGIVs dùng cho bệnh tự miễn có thể gây ra tác dụng ức chế miễn dịch chung, cung cấp các kháng thể kháng tự phát, hoặc gắn với các chất trung gian viêm nhiễm (ví dụ bổ thể). Nǎm 1990 Viện y học Quốc gia đồng ư thảo luận là cần có nghiên cứu lớn về cơ chế của nhiều loại bệnh mà IVIGs được sử dụng để điều trị. Cơ chế chính xác của IVIGs trong bệnh tự miễn dịch vẫn chưa được biết rơ.

3. Đặc điểm phân biệt:

Hầu hết các thày thuốc hiện nay cân nhắc về tính tương đương của các chỉ định dán và không được dán trên nhăn của các IVIGs sẵn có ở thị trường. Đặc điểm phân biệt quan trọng nhất là số lượng của IgA "ô nhiễm" có trong sản phẩm. Các đặc điểm dược lư khác (ví dụ: pH, nồng độ các protein khác hoặc đường, chất lỏng so với bột và liệu có hay không sản phẩm được điều chế dạng bột hoà tan) có thể khác nhau từ sản phẩm này đến sản phẩm khác. Do IVIGs có thể rất đắt, chi phí tương đối cũng là 1 đặc điểm phân biệt quan trọng. Bệnh nhân bị giảm gamma globulin huyết người bị nhạy cảm trung gian kháng thể với IgA phải dùng sản phẩm có hàm lượng IgA rất thấp. Gammagard SD (r) và Polygam SD (r), được sản xuất bằng qui tŕnh tương tự có số lượng IgA thấp nhất là những sản phẩm sẵn có (có nghĩa là < 3,7m g) Tuy nhiên Iveegam (r) chứa < 2m g/ml IgA, sản phẩm này khó sản xuất. May mắn là bệnh nhân thiếu hụt gammaglobulin hiếm khi nhạy cảm với IgA.

Bệnh nhân bị giảm gamma globulin huyết có thể cũng bị nhạy cảm với các thành phần dược lư của 1 sản phẩm (ví dụ pepsin trong Sandoglobulin (r)). Những bệnh nhân này có thể cần loại sản phẩm đặc biệt của IVIGs để tránh mắc phải phản ứng bất lợi. May mắn thay, những bệnh nhân này cũng rất hiếm gặp. 1 sản phẩm IVIGs mà đă có sẵn ở dạng lỏng có thể được thích hơn ở một số t́nh trạng lâm sàng. Bột IVIGs ḥa tan thành dung dịch rất chậm. Liều lớn IVIGs ḥa tan có thể phải chuẩn bị hơn 30'. Thêm nữa, nếu IVIGs được lắc, protein có thể bị phá huỷ. 1 sản phẩm dạng dung dịch (ví dụ Gamimuse N(r)) có lợi khi cần liều nhanh hoặc khi dạng bột tái h́nh thành có thể sảy ra khi cố gắng chuẩn bị liều IVIGs khi đưa bệnh nhân đến cơ sở lâm sàng. Liệu việc điều trị dạng bột hoà tan là cần thiết đối với IVIGs hay không vẫn c̣n tranh căi. Điều chế bột hoà tan IVIGs sẽ loại trừ nguy cơ của virus bao lipid (vd viêm gan C) nhưng sẽ không loại trừ nguy cơ của tất cả các loại virus (ví dụ parvo virus B-19). Tuy nhiên đă có một vài trường hợp viêm gan C liên quan đến IVIGs. Những người cho máu mà huyết thanh của họ được sử dụng để làm IVIGs hiện nay được sàng lọc kháng thể viêm gan C. Mỉa mai thay, loại trừ huyết thanh từ những bệnh nhân này thực sự làm tǎng nguy cơ lây truyền viêm gan C v́ không có kháng thể sẵn có ở IVIGs để trung hoà bất cứ viêm gan C nào mà có thể làm cho nó thành một chế phẩm từ plasma dự trữ. Gần đây những người hiến máu tiếp xúc với viêm gan C có thể có virus huyết, nhưng không có kháng thể. FDA tuyên bố đầu nǎm 1995 là các nhà sản xuất cần cung cấp các tư liệu về bất hoạt virus hoặc các giai đoạn loại bỏ trong quá tŕnh sản xuất, các nhà sản xuất Gamimuse N(r), Sandoglobulin (r), Iveegam (r); Gammagard SD (r), polygam SD (r) và venoglobulin-S (r) tất cả đă cung cấp các dữ liệu bất hoạt viêm gan C trong quá tŕnh sản xuất. Hiện nay FDA sàng lọc tất cả các lô IVIGs về viêm gan C bằng các xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase trước khi chúng được ra đời. Bởi vậy, liệu sản phẩm điều chế dạng bột hoà tan có tǎng chi phí giá trị của chúng có thể bị thất bại hay không.

4. Phản ứng bất lợi:

Nói chung IVIGs thường ít gây ra phản ứng có hại. Phản ứng liên quan đến truyền tĩnh mạch (đau đầu, đau lưng hoặc bụng, buồn nôn/nôn, ớn lạnh, sốt và đau cơ) có thể xử trí bằng giảm tốc độ truyền hoặc điều trị trước khi truyền bằng aspirin hoặc corticosteroid. Có phản ứng bất lợi nhưng hiếm ( viêm màng năo vô khuẩn, viêm gan) liên quan đến IVIGs. Nǎm 1994, thông tin về sản phẩm IVIGs biến đổi bao gồm cảnh báo về viêm màng năo vô khuẩn. Hội chứng này thường sảy ra trong ṿng một vài giờ tới 2 ngày sau khi điều trị. Đặc điểm là đau đầu rất nặng, cứng gáy, ngủ gà, sốt, sợ ánh sáng, đau khi nháy mắt và buồn nôn/nôn. Viêm màng năo vô khuẩn do IVIGs nên được giải quyết trong vài ngày sau khi ngừng điều trị.

Sàng lọc lựa chọn người hiến máu và quá tŕnh tách ethanol cho thấy ngǎn ngừa nhiễm HIV cho IVIGs. Chưa thấy có trường hợp HIV nào liên quan đến sử dụng IVIGs.

Tóm tắt:

IVIGs là chế phẩm của IgG dự trữ từ plasma người hiến máu được tinh chế và sử lư để có thể tiêm tĩnh mạch. IVIGs được sử dụng cho nhiều chỉ định gồm điều trị suy giảm miễn dịch tiên phát hoặc thứ phát, điều trị bệnh tự miễn và đặc tính ức chế miễn dịch. IVIGs có trên thị trường được xem như tương đương về tư liệu. Những số liệu hạn chế về sử dụng IVIGs cho bệnh tự miễn không dán trên nhăn lấy từ những thử nghiệm không đối chứng và một số thông báo. Tuy nhiên, có thể IVIGs đưa ra liệu pháp thay thế khi các thay thế ít chi phí đă thất bại hoặc trước những thủ thuật chi phí nhiều hơn như liệu pháp điều trị bằng huyết tương đă tinh chế. Tất cả các sản phẩm IVIGs hiện nay được xem như an toàn như nhau đối với lây truyền viêm gan C do khả nǎng bất hoạt viêm gan C được chỉ ra trong quá tŕnh sản xuất. Lựa chọn sản phẩm chỉ quan trọng ở bệnh nhân đặc biệt (ví dụ ở bệnh nhân giảm gamma globulin huyết nhạy cảm với IgA).