Barbiturat
Cephalosporin
Chống trầm cảm dị ṿng
Các aminoglycosid
Các chất Benzodiazepin
Các chất chẹn alpha
Các chất chẹn H1
Các chất chẹn H2
Các chất chống chuyển hóa
Các chất chống động vật đơn bào
Các chất chủ vận opiat
Các chất làm tǎng thể tích huyết tương
Các chất làm tǎng thể tích huyết tương
Các chất ức chế catecholamin
Các chất ức chế glycoprotein (GP) IIB/IIIA tiểu cầu
Các chất ức chế men chuyển angiotensin (các chất ức chế ACE)
Các chất ức chế protease kháng retrovirus
Các chất ức chế serotonin có chọn lọc (SSRI)
Các corticosteroid
Các quinolon
Các quinolon
Các sulfonylurea
Các tetracyclin
Các thuốc chẹn beta
Các thuốc chống cao huyết áp
Các thuốc chống cao huyết áp
Các thuốc chống gút
Các thuốc chống loạn nhịp nhóm III
Các thuốc chống loạn nhịp nhóm IV
Các thuốc chống tǎng lipid máu
Các thuốc chống tǎng nhăn áp
Các thuốc chống viêm đường hô hấp
Các thuốc giả phó giao cảm
Các thuốc giả phó giao cảm
Các thuốc hô hấp
Các thuốc hô hấp
Các thuốc hỗ trợ nhu động
Các thuốc kích thích tạo máu
Các thuốc liên quan đến đông máu
Các thuốc làm tǎng co cơ
Các thuốc thúc đẻ
Các thuốc thúc đẻ
Các thuốc tuyến giáp
Các thuốc tuyến giáp
Các thuốc ức chế oxid monoamin (MAOIs)
Các tác nhân alkyl hóa
Các Vitamin
Globulin miễn dịch
Macrolid
New Page 1
New Page 1
New Page 2
New Page 2
New Page 2
NHÖƠNG VAÁN ÑEÀ LIEÂN QUAN ÑEÁN DÖÔÏC PHAÅM
NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN DƯỢC PHẨM
NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN DƯỢC PHẨM
NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN DƯỢC PHẨM
Penicillin
Shared Bottom Border
Shared Left Border
Shared Right Border
Shared Top Border
Sulfonamid
THUỐC AN THẦN
THUỐC BỔ
THUỐC BỔ SUNG KHOÁNG CHẤT
THUỐC CHẤT LÀM SE
THUỐC CHẸN BÊTA
THUỐC CHỐNG CAO HUYẾT ÁP
THUỐC CHỐNG CO THẮT
THUỐC CHỐNG GIUN SÁN
THUỐC CHỐNG LO ÂU
THUỐC CHỐNG LOẠN NHỊP TIM
THUỐC CHỐNG NÔN
THUỐC CHỐNG NẮNG
THUỐC CHỐNG RỐI LOẠN TÂM THẦN
THUỐC CHỐNG THẤP KHỚP
THUỐC CHỐNG TIÊU CHẢY
THUỐC CHỐNG TIẾT CHOLINE
THUỐC CHỐNG TIẾT MỒ HÔI
THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM
THUỐC CHỐNG UNG THƯ
THUỐC CHỐNG ĐỘNG KINH
THUỐC CÓ BỌC NGOÀI BẢO  VỆ
THUỐC CẦM MÁU
THUỐC Digitalis
THUỐC DÙNG TRONG KHI MANG THAI
THUỐC DỊÊT TINH TRÙNG
THUỐC GIĂN CƠ
THUỐC GIĂN MẠCH
THUỐC GIĂN PHẾ QUẢN
THUỐC GIẢI ĐỘC
THUỐC GIẢM SUNG HUYẾT
THUỐC GIẢM ĐAU
THUỐC GÂY NÔN
THUỐC GÂY SUNG HUYẾT DA
THUỐC GÂY VÔ CẢM
THUỐC GÂY ĐỘC TẾ BÀO
THUỐC GÂY ẢO GIÁC
THUỐC HO
THUỐC HUỶ GIAO CẢM
THUỐC HƯỚNG TÂM THẦN
THUỐC HẠ LIPID MÁU
THUỐC HẠ ĐƯỜNG HUYẾT UỐNG
THUỐC HỒI SỨC
THUỐC KHÁNG ACID
THUỐC KHÁNG CHOLINE
THUỐC KHÁNG Histamine
THUỐC KHÁNG HUYẾT THANH
THUỐC KHÁNG KHUẨN
THUỐC KHÁNG NẤM
THUỐC KHÁNG NỌC ĐỘC NỘI TIẾT TỐ
THUỐC KHÁNG NỌC ĐỘC NỘI TIẾT TỐ
THUỐC KHÁNG NỘI TIẾT TỐ
THUỐC KHÁNG SINH
THUỐC KHÁNG THỤ THỂ Hiostamione 2
THUỐC KHÁNG VIRUS
THUỐC KHÁNG VIÊM
THUỐC KHÁNG VIÊM KHÔNG Steroid
THUỐC KHÁNG ĐÔNG
THUỐC KHÁNG ĐỘC TỐ
THUỐC KÍCH DỤC
THUỐC KÍCH THÍCH
THUỐC KÍCH THÍCH MIỄN DỊCH
THUỐC KÍCH THÍCH ĂN NGON
THUỐC LONG ĐỜM
THUỐC LÀM MỀM DA
THUỐC LÀM RỤNG LÔNG TÓC
THUỐC LÀM TAN CỤC MÁU ĐÔNG
THUỐC LỢI TIỂU
THUỐC MỠ
THUỐC NGHIỆN
THUỐC NGỦ
THUỐC NGỪA THAI UỐNG
THUỐC NHUẬN TRƯỜNG
THUỐC NHÓM ORPHAN
THUỐC NHỎ MẮT
THUỐC PHIỆN
THUỐC PHỐI HỢP
THUỐC SINH TỐ
THUỐC STEROID
THUỐC STEROID ĐỒNG HOÁ
THUỐC SULFONAMIDE
THUỐC SÁT TRÙNG
THUỐC SÚC RỬA MIỆNG
THUỐC TIÊM TÁC DỤNG CHẬM
THUỐC VIÊN NANG
THUỐC VÀ THỂ THAO
THUỐC XOA
THUỐC ĐIỀU TRỊ LOÉT  TÁ TRÀNG
THUỐC ĐIỀU TRỊ VÔ SINH
THUỐC ỨC CHẾ ACE
THUỐC ỨC CHẾ CALCI
THUỐC ỨC CHẾ MIỄN DỊCH
THUỐC ỨC CHẾ ĂN NGON
THUỐC, BĂNG DÁN DA
THUỐC, LẠM DỤNG
THUỐC, LỆ THUỘC
THUỐC, QUEN THUỐC
THUỐC, TÁC DỤNG PHỤ
THUỐC,  GIẢ DƯỢC (placebo)
THUỐC  CHỦNG NGỪA
Thuốc chẹn kênh canxi
Thuốc chống lao
Thuốc chống loét dạ dày
Thuốc chống loạn nhịp nhóm I
Thuốc chống loạn nhịp nhóm II
Thuốc chống loạn thần
Thuốc chống nấm
Thuốc chống trầm cảm 3 ṿng
Thuốc chủ vận và đối kháng opiate
Thuốc chủ vận và đối kháng opiate
Thuốc gây tê tại chỗ
Thuốc kháng virus
Thuốc làm tan huyết khối
Thuốc lợi tiểu
Thuốc nhuận tràng và thuốc chống táo bón
Thuốc sản khoa
Thuốc tránh thai
Thuốc ức chế miễn dịch

 

ANTIHYPERTENSIVE AGENTS
Các thuốc chống cao huyết áp

Lịch sử: Các thuốc điều trị cao huyết áp có sớm nhất gồm nhiều thuốc hiện không c̣n dùng trong điều trị cao huyết áp trên lâm sàng: các alkaloid của cây rễ li (veatrum) và cây ba gạc (rauwolfia), thuốc lợi tiểu thủy ngân, và các thuốc phong bế hạch. Ngay cả hydralazin, được cho phép dùng vào nǎm 1952, hiện cũng ít được dùng làm một thuốc điều trị cao huyết áp.

Nǎm 1960, các chất chẹn beta, chất chẹn alpha ngoại vi, thuốc lợi tiểu mạch, các chất ức chế men chuyển angiotensin (ACE) và các chất chẹn kênh calci (CCB) chưa có trên thị trường. Giữa những nǎm 1970, nhiều thuốc thuộc loại này được dùng trong lâm sàng và một chiến lược có hệ thống để điều trị cao huyết áp đă được đặt ra, có tên là phương pháp "điều trị từng bước". Chiến lược này sử dụng lợi tiểu làm thuốc hàng đầu, tiếp theo là bổ sung chất ức chế giao cảm (như: propranolol), chất giăn mạch (như: hydralazin) và cuối cùng là bổ sung hoặc thay thế bằng guanethidin.

Vào đầu những nǎm 1980, các chất ức chế ACE và chất chẹn kênh calci được triển khai, và những chất này, cùng với các chất chẹn beta, đều có hiệu quả chống cao huyết áp khi dùng đơn độc. Phương pháp "điều trị từng bước" cao huyết áp bị loại bỏ nhiều. V́ đă có sẵn nhiều thuốc, nên bệnh đi kèm và chi phí điều trị trở thành những vấn đề ưu tiên trong việc chọn thuốc chống cao huyết áp. Một bệnh nhân bị nhiều bệnh có thể được điều trị bằng một thuốc đơn thuần (thí dụ: chất ức chế ACE để điều trị cao huyết áp đi kèm với suy tim hoặc chất chẹn kênh calci dùng cho bệnh nhân cao huyết áp kèm theo đau thắt ngực).

Tháng 10/1992, báo cáo thứ 5 của ủy ban liên Quốc gia về Phát hiện, Đánh giá và Điều trị Cao Huyết áp (JNC V) được công bố. Báo cáo này đă gây tranh luận v́ nó khuyến nghị dùng thuốc lợi tiểu hoặc chất chẹn beta làm thuốc hàng đầu cho phần lớn bệnh nhân cao huyết áp do những lợi ích của thuốc đối với tỷ lệ mắc bệnh và tử vong. Các thuốc điều trị cao huyết áp khác có thể được chấp nhận làm thuốc hàng đầu nếu thuốc điều trị cao huyết áp có lợi đối với bệnh đi kèm. Bất chấp những khuyến nghị trong báo cáo này, h́nh như các loại thuốc cao huyết áp khác cũng làmgiảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do những tác dụng tim mạch đặc biệt mà một số thuốc có (thí dụ: tác dụng chống xơ mỡ độngmạch của các chất chẹn kênh calci, tác dụng có lợi đối với tỷ lệ tử vong của các chất ức chế ACE được dùng sau nhồi máu cơ tim) chứ không riêng ǵ thuốc lợi tiểu hoặc chất chẹn beta.

Báo cáo của JNC V cũng đề cập đến tần suất liều và sự hài ḷng. Các thuốc tác dụng kéo dài cho phép dùng liều 1 lần hoặc 2 lần/ngày được thừa nhận là có vai tṛ quan trọng đối cới sự hài ḷng. Hiện nay, thầy thuốc có thể chọn từ các thuốc lợi tiểu thiazid, torsemid, doxazosin, một số thuốc ức chế ACE, một số thuốc chẹn kênh calci, một số thuốc chẹn beta, hoặc minoxidil để t́m ra một thuốc có thể dùng liều 1 lần/ngày. Liều điều trị chống cao huyết áp 1 lần/tuần là khả thi với dạng clonidin qua da.

Cuối cùng, tác động của liệu pháp chống cao huyết áp đối với tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do đột quỵ c̣n rơ rệt hơn việc giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong thứ phát sau bệnh tim mạch. Nguyên nhân của điều này c̣n chưa rơ, nhưng có thể liên quan tới ph́ đại thất trái (LVH), một khái niệm bắt đầu được chú ư nhiều trong những nǎm 1990. Người ta cho rằng LVH có liên quan tới tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch và không phải tất cả các thuốc chống cao huyết áp đều có tác dụng giảm LVH. Khi những thuốc làm giảm LVH được sử dụng nhiều, tác động tới tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do bệnh tim mạch thứ phát sau cao huyết áp sẽ lớn hơn.

Hiện nay, có không dưới 9 loại thuốc chống cao huyết áp bao gồm hơn 80 thuốc và ước tính 25 triệu người Mỹ đang dùng các thuốc huyết áp. Một nghiên cứu về sử dụng thuốc chống cao huyết áp từ 1982-1993 cho thấy việc dùng thuốc lợi tiểu và chất chẹn beta làm thuốc chống cao huyết áp đă giảm tương ứng từ 53% xuống 27% và từ 20% xuống 13% số thuốc chống cao huyết áp được dùng. Việc dùng chất đối kháng calci làm thuốc chống cao huyết áp tǎng từ 0,3% lên 27% và việc dùng chất ức chế ACE tǎng từ 0,8% lên 24%. Nếu xét đến các loại thuốc chống cao huyết áp mới này đắt hơn nhiều so với các thuốc lợi tiểu hoặc chất chẹn beta, th́ việc chứng minh ưu điểm của những thuốc này vượt quá giá cả của chúng là rất quan trọng.

Cơ chế tác dụng: Các thuốc chống cao huyết áp giảm huyết áp theo nhiều cơ chế khác nhau. Thuốc có thể làm thay đổi sức cản ngoại vi toàn phần (TPR), thể tích đột quỵ (SV), nhịp tim (HR) hoặc công suất tim (CO); tất cả đều dẫn tới hạ huyết áp. Những thay đổi tim mạch này là thứ phát sau nhiều tác động dược lư của thuốc bao gồm rút ion natri ra khỏi cơ trơn mạch máu (thí dụ: các thuốc lợi tiểu); cản trở renin (thí dụ: các thuốc chẹn beta), angiotensin (thí dụ: các chất ức chế ACE, losartan), hoặc aldosteron (thí dụ: spironolacton); hoặc giảm hoạt động giao cảm (thí dụ: các chất chẹn alpha, chẹn beta, reserpin, guanethidin và các chất đối kháng alpha trên hệ thần kinh trung ương).

Giăn mạch là tác dụng ưu thế nhất của thuốc chống cao huyết áp. Tác dụng này có thể chia nhỏ hơn theo phần của hệ tuần hoàn bị ảnh hưởng. Chất làm giăn tĩnh mạch (thuốc lợi tiểu, nitrat) làm giảm tiền gánh và SV. Nói chung, lợi tiểu thiazid thường có hiệu quả chống cao huyết áp rơ hơn lợi tiểu quai Henle. Chất làm giăn động mạch (chất ức chế ACE, hydralazin, minoxidil và dihydropyridin CCB) giảm hậu gánh và giảm TPR. Các chất giăn mạch hỗn hợp (các chất đối kháng alpha1 ngoại vi) giảm cả SV và TPR. Không may là có thể diễn ra t́nh trạng quen với tác dụng của thuốc. Một phần tác dụng chống cao huyết áp của chất ức chế ACE có thể do khả nǎng của bradykinin, một hợp chất giăn mạch.

Các thuốc khác có tác dụng trực tiếp trên mô tim. Tác dụng giảm lực co cơ và giảm điều nhịp của các thuốc chẹn beta và một số thuốc CCB (thí dụ: verapamil, diltiazem) làm giảm CO, nhờ đó làm hạ huyết áp.

Cuối cùng, losartan là thuốc đang nghiên cứu có tác dụng đối kháng tại thụ thể type 1 của angiotensin II. Thuốc cản trở tác dụng tim mạch của angiotensin II đă h́nh thành, không như các chất ức chế ACE cản trở tổng hợp angiotensin II.

Các đặc điểm phân biệt: Thuốc lợi tiểu, mặc dù chỉ có hiệu quả vừa phải trên lipid huyết thanh, vẫn là thuốc chống cao huyết áp quan trọng. Các thuốc lợi tiểu thiazid không đắt và có thể được dùng liều 1 lần/ngày. Tuy nhiên, vẫn c̣n tranh căi về hiệu quả của các thuốc lợi tiểu quai Henle trong điều trị cao huyết áp. Trừ torsemid, thời gian tác dụng của các thuốc lợi tiểu quai Henle quá ngắn khiến chúng không trở thành thuốc chống cao huyết áp hiệu quả. (Xem thêm phần tổng quan "Các thuốc lợi tiểu").

Chất chẹn beta là thuốc chống cao huyết áp toàn diện có khá ít tác dụng phụ. Hiện nay, có không dưới 12 chất chẹn beta dùng đường uống, mặc dù không phải tất cả đều được chỉ định điều trị cao huyết áp. Các chất chẹn beta có thể được chia nhỏ theo thời gian tác dụng, đường bài xuất (thí dụ: thận so với gan), những thuốc có hoạt tính giả giao cảm nội tại hoặc chọn lọc beta1, và độ ḥa tan lipid (xem thêm phần tổng quan "Các thuốc chẹn beta"). Thông thường, các chất chẹn beta có thể đồng thời điều trị cao huyết áp có kèm bệnh khác. Một số thuốc chẹn beta đă có ở dạng thuốc gốc và một số thuốc có thể dùng liều 1 lần/ngày. ảnh hưởng của thuốc trên LVH trái ngược nhau.

Các chất ức chế men chuyển angiotensin (ACE) đang trở thành nhóm thuốc tim mạch quan trọng. Mặc dù có không dưới 8 thuốc được lựa chọn từ nhóm này, nhóm thuốc này thuần nhất hơn các chất chẹn beta (xem thêm phần tổng quan "Các thuốc ức chế ACE"). Tuy nhiên, giống như các chất chẹn beta, các chất ức chế ACE cũng được dùng để điều trị đồng thời cao huyết áp và một số bệnh tim mạch chọn lọc khác. Các chất ức chế ACE làm giảm LVH và nhiều thuốc có thể được dùng liều 1 lần/ngày.

Trừ clonidin, terazosin và doxazosin, các thuốc chống cao huyết áp ức chế giao cảm không c̣n được dùng phổ biến. Reserpin, methyldopa, guanethidin và prazosin hiện ít được dùng trong điều trị cao huyết áp v́ những phản ứng có hại không mong muốn. Terazosin được cấp phép dùng điều trị ph́ đại tuyến tiền liệt lành tính. Doxazosin và terazosin ít gây ngất ở liều đầu tiên so với prazossin. Clonidin là một thuốc có hiệu quả và nhiều tác dụng. Doxazosin, terazosin và clonidin làm giảm LVH và đều có thể dùng liều 1 lần hoặc 2 lần/ngày (Xem thêm phần tổng quan "Các chất chẹn alpha").

Việc lựa chọn liệu pháp điều trị chống cao huyết áp ban đầu thường dựa trên tuổi và sắc tộc của bệnh nhân. Liệu pháp lợi tiểu hoặc CCB nói chung hiệu quả trong cao huyết áp không do renin, phụ thuộc thể tích. Cao huyết áp không do renin, phụ thuộc thể tích thường gặp nhất ở bệnh nhân già và bệnh nhân người Mỹ gốc Phi. Các chất chẹn beta và chất ức chế ACE nói chung hiệu quả ở thể cao huyết áp phụ thuộc renin thường gặp ở những bệnh nhân trẻ và da trắng.

Kiểm soát glucose là rất quan trọng trong điều trị bệnh nhân đái tháo đường và các thuốc gây kém dung nạp glucose có thể làm cho việc kiểm soát khó khǎn hơn. Các chất chẹn beta có thể làm giảm dung nạp glucose và che khuất các hạ đường huyết. Hạ đường huyết do dùng lợi tiểu có thể gây kém dung nạp glucose. Chất ức chế ACE và chất đối kháng thụ thể alpha1 ngoại vi có thể làm giảm tính kháng insulin.

Bệnh nhân bị hen hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có nguy cơ cao bị co thắt phế quản khi dùng liệu pháp chẹn beta hơn những bệnh nhân không dùng những thuốc này. Tác dụng này có thể làm nặng thêm bệnh phổi đă có từ trước. Các thuốc đặc hiệu beta1 ít gây co thắt phế quản hơn. Các CCB không làm bệnh hen trầm trọng thêm và có một số tác dụng tích cực đối với hen do gắng sức.

Bệnh tim mạch, bao gồm bệnh mạch vành với các triệu chứng đau thắt ngực, là hậu quả trầm trọng của cao huyết áp. Các thuốc giăn mạch (thí dụ: hydralazin, minoxidil) gây nhịp nhanh phản xạ, làm tǎng nhu cầu oxy của tim và có thể làm trầm trọng cơn đau thắt ngực. Các thuốc như chất chẹn beta và CCB có thể giảm nhu cầu oxy và giảm gánh cho tim. Thuốc lợi tiểu và chất chẹn beta có thể làm tǎng nguy cơ rối loạn lipid máu, có thể dẫn tới xơ mỡ động mạch và đau thắt ngực. Các chất ức chế ACE, chất đối kháng alpha1 và hydralazin làm giăn động mạch dẫn tới giảm hậu gánh và thích hợp cho bệnh nhân bị cao huyết áp kèm suy tim. Nếu bệnh nhân bị cao huyết áp và rối loạn chức nǎng tâm trương (tǎng sức cản khi tống máu xuống 1 hoặc cả 2 tâm thất), nên chọn thuốc có lợi cho cả 2 bệnh. Thuốc lợi tiểu, thuốc giăn tĩnh mạch, chất ức chế ACE và CCB đều có lợi cho người rối loạn chức nǎng tâm trương, trong khi thuốc giăn động mạch và chất chẹn beta ít có lợi nhưng không có tác dụng phụ đáng kể.

Thuốc lợi tiểu thường được dùng trong cao huyết áp thứ phát sau bệnh thận v́ huyết áp tǎng có thể là do tǎng thể tích. Nh́n chung, các thiazid không có hiệu quả ở những bệnh nhân có CrCl<30ml/phút. Các thuốc lợi tiểu quai Henle, indapamid và metolazon có thể dùng cho nhóm bệnh nhân này. V́ bệnh nhân suy thận có thể bị tǎng kali huyết, tránh dùng chất ức chế ACE và các thuốc lợi tiểu giữ kali. Chất ức chế ACE và CCB (đặc biệt là diltiazem và nicardipin) làm giảm protein niệu trong bệnh thận do đái đường và có thể có tác dụng bảo vệ thận. Các chất ức chế ACE có thể thúc đẩy suy thận ở những bệnh nhân bị hẹp động mạch thận 1 bên hoặc 2 bên và ở những bệnh nhân bị bệnh thận từ trước.

Việc điều trị cao huyết áp mạn tính trong thời kỳ thai nghén đặt ra mối lo ngại cho sự phát triển của thai nhi. Methyldopa tỏ ra an toàn và hiệu quả trong trường hợp này. Labetalol cũng an toàn cho thai nhi. Sử dụng chất đối kháng alpha1 và nifedipin có vẻ an toàn, nhưng cần có những nghiên cứu đối chứng dài ngày. Dùng chất chẹn beta đem lại những hậu quả khác nhau đối với thai nhi, bao gồm ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi. Các thuốc lợi tiểu có thể xử trí các triệu chứng liên quan tới phù phổi hoặc suy tim trong thời kỳ thai nghén nhưng sử dụng dài ngày các thuốc lợi tiểu có thể gây mất nước, rối loạn điện giải, hoặc những tác dụng phụ nguy hiểm khác đối với thai nhi. Các chất ức chế men chuyển angiotensin làm chết thai và những rối loạn khác ở bào thai.

Những phản ứng có hại: Những loại phản ứng có hại có liên quan tới các thuốc chống cao huyết áp. Trong thử nghiệm VA gồm 6 thuốc chống cao huyết áp được dùng đơn độc, clonidin và prazosin gây nhiều phản ứng có hại đáng kể so với placebo. Những phản ứng có hại dẫn đến phải ngừng thuốc xảy ra ở 1,1% số bệnh nhân dùng hydrochlorothiazid, 2,2% số bệnh nhân dùng atenolol, 4,8% số bệnh nhân dùng captopril, 6,4% số bệnh nhân dùng placebo, 6,5 % số bệnh nhân dùng diltiazem, 10,1% số bệnh nhân dùng clonidin, và 13,8% số bệnh nhân dùng prazosin. Việc cân nhắc tác dụng phụ của các thuốc chống cao huyết áp là rất quan trọng, nhất là khi một số thuốc có thể làm nặng thêm t́nh trạng của bệnh đi kèm.

Tụt huyết áp khi đứng là một tác dụng phụ nguy hiểm của liệu pháp chống cao huyết áp, dẫn đến chóng mặt, mất thǎng bằng và nguy cơ ngă. Các thuốc phong bế hậu hạch, chất chủ vận alpha2 trung ương, chất đối kháng alpha1 ngoại vi và labetalol có tỷ lệ gây loại phản ứng này cao nhất. Các liệu pháp thay thế, với tỷ lệ tụt huyết áp khi đứng thấp, bao gồm thuốc lợi tiểu, chất chẹn beta, chất ức chế ACE và CCB. Những bệnh nhân cao tuổi nhạy cảm hơn với tác dụng tụt huyết áp khi đứng và ngă có thể gây hậu quả trầm trọng. Những bệnh nhân bị bệnh thần kinh, như bệnh nhân đái đường, cũng có nguy cơ cao bị hạ huyết áp khi đứng.

Nhịp tim nhanh có thể xảy ra khi dùng bất kỳ thuốc giăn mạch mạnh; như hydralazin, minoxidil và các dihydropyridin CCB. Các thuốc chống cao huyết áp khác như verapamil, diltiazem và chất chẹn beta được dùng để điều trị hoặc kiểm soát nhịp tim nhanh do nhịp nhanh trên thất bằng cách blốc dẫn truyền qua nút nhĩ thất. V́ vậy, những thuốc này có tác dụng phụ gây nhịp tim chậm. Các thuốc chống cao huyết áp khác, như chất ức chế ACE, không có tác dụng điều nhịp.

Các thuốc có tác dụng tiêu cực lên co bóp cơ tim, như chất chẹn beta, reserpin và verapamil có thể gây ra hoặc làm nặng thêm rối loạn chức nǎng tâm thu (tim không đủ khả nǎng co bóp).

Loạn lipid máu làm tǎng nguy cơ bị bệnh mạch vành và mạch ngoại vi. Những bệnh nhân đái đường có nguy cơ bị các rối loạn lipid. Thuốc lợi tiểu và chất chẹn beta (trừ những thuốc có ISA) có thể làm tǎng triglycerid, cholesterol, hoặc giảm các lipoprotein tỷ trọng cao. Các chất đối kháng alpha1 ngoại vi, chất chẹn kênh calci, chất chủ vận alpha2 trung ương và chất ức chế ACE không gây bất thường lipid và có thể là thuốc thay thế có hiệu quả. Mặc dù cholesterol tǎng trong thời gian đầu điều trị bằng lợi tiểu thiazid, những thay đổi này không có khác biệt đáng kể so với placebo sau 1 nǎm điều trị.

Những tác dụng phụ trên hệ thần kinh trung ương (CNS) thường là những phản ứng hạn chế đối với việc tiếp tục liệu pháp điều trị chống cao huyết áp. Trầm cảm là một tác dụng phụ nổi bật khi điều trị reserpin, nhưng cũng có thể gặp với mức độ ít hơn khi dùng các chất chẹn beta và methyldopa. Nói chung, các thuốc có tác động trung ương sẽ gây nhiều tác dụng phụ trên CNS như lơ mơ, buồn ngủ, khô miệng, mệt mỏi, thờ ơ, nhiễu loạn giấc mơ và mất ngủ. Chất đối kháng alpha1, chất ức chế ACE và các thuốc giăn mạch có tỷ lệ tác dụng phụ trên CNS thấp.

Tǎng acid uric máu có thể là hậu quả của việc dùng một số thuốc chống cao huyết áp và thúc đẩy các cơn gút. Thuốc lợi tiểu và chấtchẹn beta thường làm tǎng acid uric huyết. Các chất chủ vận alpha2 trung ương, chất đối kháng alpha1 và các CCB có vẻ không làm thay đổi thanh thải acid uric. Các chất ức chế ACE có thể làm tǎng thanh thải acid uric niệu, do đó ngǎn ngừa chứng tǎng acid uric máu. Đáng tiếc, tác dụng này làm tǎng nguy cơ lắng đọng acid uric trong thận hoặc nước tiểu.

Rối loạn chức nǎng t́nh dục là một vấn đề lớn trong điều trị bằng một số thuốc chống cao huyết áp. Các thuốc ức chế ACE và CCB nói chung được coi là không ảnh hưởng tới chức nǎng này và nên được xem là liệu pháp điều trị hàng đầu khi có biểu hiện rối loạn chức nǎng t́nh dục. Liệt dương có thể xảy ra do dùng thuốc lợi tiểu, thuốc phong bế hậu hạch, chất đối kháng alpha1 ngoại vi, chất chủ vận alpha2 trung ương, labetalol và các thuốc chẹn beta. Không xuất tinh được chủ yếu xảy ra khi dùng chất phong bế hậu hạch, nhưng có thể xảy ra khi dùng labetalol và các thuốc chủ vận alpha2. Mất hoặc giảm t́nh dục chủ yếu xảy ra khi dùng các thuốc chẹn beta và labetalol, nhưng có thể xảy ra khi dùng các thuốc chủ vận alpha2, các thuốc chẹn sau hạch và indapamid. Cường dương là một biến chứng nặng của liệu pháp chống cao huyết áp và liên quan tới labetalol, hydralazin, các CCB và prazosin.