|
NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN
DƯỢC PHẨM
(PHẦN I)
THUỐC
Thuốc là chất hoá học là
thay đổi chức năng của một hay nhiều cơ quan trong cơ thể và làm thay đổi
tiến tŕnh của một bệnh.
Nhiều loại thuốc phải có
bác sĩ kê toa mới được dùng, nhưng có loại có thể mua tự do. Nhiều loại thức
uống cũng chức một lượng nhỏ chất thuốc như trà, cà phê, nước cocacola. Các
nước uống kể trên đều có chứa chất caffein có tính kích thích và lợi tiểu.
Thông thường mỗi thuốc có 3
tên: Tên hoá học (chi tiết), tên nhóm (ngắn hơn), và tên biệt dược (do công ty
sản xuất đặt tên).
Thuốc
gốc
Mỗi loại thuốc có 3 tên:
tên hoá học, tên gốc và tên thương mại. Mỗi loại thuốc gốc có thể mang nhiều
tên thương mại. Ví dụ diazepam là tên gốc của một số tên thương mại như:
apo-diazepam, novo-dipam và valium. Thường thường một số loại thuốc được bán
dưới tên gốc có giá rẻ hơn thuốc cùng loại có tên thương mại.
Nguốn
gốc
Trước đây , tất cả các
thuốc đều được chiết xuất trong tự nhiên từ động vật, thực vật hoặc khoáng
chất. Ngày nay đa số các loại thuốc đều được sản xuất nhân tạo trong pḥng thÍ
nghiệm, đảm bảo độ tinh khiết và hiệu quả của thuốc, an toàn hơn cho điều trị.
Một số loại thuốc như : Insulin được tổng hợp bằng công nghệ di truyền gen.
Ngày nay các loại thuốc mới
được tạo ra bằng nhiều cách: nghiên cứu các hoạt tính khác nhau của một chất,
sàng lọc và lựa ra những hoạt tính chống lại một bệnh nào đó; làm thay đổi cấu
trúc củamột thuốc; hoặc t́m một cách thức mới sử dụng một loại thuốc, nhờ vậy,
có thể ứng dụng trong điều trị một loại bệnh khác.
Phân loại
Thuốc được phân biệt theo
nhiều cách:
*
Theo công thức hoá học.
*
Theo loại bệnh mà thuốc điều trị.
*
Theo tác dụng đặc biệt, của thuốc lên cơ thể (ví dụ: thuốc nhóm lợi tiểu có
tác dụng làm tăng lượng nước tiểu bài tiết).
Đánh giá.
Tất cả các loại thuốc đều
phải được kiểm tra vê hiệu quả và độ an toàn trước khi sử dụng rộng răi. Các
thử nghiệm kiểm tra thưởng được tiến hành theo 3 giai đoạn: thử nghiệm trên
động vật thí nghiệm, thử nghiệm ttre6n những người t́nh nguyện; cuối cùng là
thử nghiệm trên bệnh nhân.
Lư do
dùng thuốc.
Thuốc dùng trong điều trị,
pḥng ngừa, chẩn đoán bệnh. Cho các thuốn nhằm mục đích làm giảm các triệu
chứng cơ năng và thực thể, hoặc để thay thế một chất tự nhiên trong cơ thể bị
thiếu hụt (chẳng hạn như nội tiết tố), hoặc để ngăn cha85cn cơ thể sản xuất
quá mức một loại nội tiết tố hoặc một chất hoá học nào đó. Một số thuốc được
dùng với mục đích tiêu huỷ các vi sinh vật xâm nhập vào cơ thể như vi
kghua63n, virus. Một số thuốc gọi là thuốc chủng ngừa, khi tiêm vào cơ thể ,
sẽ kích hích hệ miễn dịch của cơ thể tạo ra kháng thể kháng lại các vi sinh
vật gây bệnh.
Thuốc kháng sinh, thuốc lợi
tiểu, thuốc giảm đau và thuốc an thần là các thuốc chỉ dùng khi có toa bác sĩ.
Các thuốc giảm đau nhẹ, thuốc trị ho, thuốc trị cảm, cúm, sinh tố và thuốc bổ
là những thuốc có thể mua mà không cần toa bác sĩ.
Cơ chế tác dụng của thuốc.
Thuốc tác dụng lên các tế
bào của cơ thể hay của các vi sinh vật gây bệnh bằng các kích thích hoặc ức
chế bằng các phản ứng hoá học của tế bào. Tác động này xảy ra đều là nhờ thuốc
có cấu trúc tương tự như những chất hoá học tự nhiên trong cơ thể.
Một số thuốc tác động bằng
cách gắn lên các thụ thể tiếp nhận thuốc (là một ví dụ đặc hiệu trên trên bề
mặt tế bào có cấu trúc phù hợp với cấu trúc hoá học của thuốc). Sự gắn kết này
sẽ gây ra những biến đổi hoá học trong tế bào. Một số loại được háp thu trong
tế bào, tác động trực tiếp trên các chu tŕnh hoá học ngay bên trong tế bào.
Ngoài ra c̣n những thuốc
giả dùng như thuốc thật để tác động lên tâm lư bệnh nhân, có thể đem lại những
hiệu quả tốt. Loại này gọi là giả dược hay placebo (xem thuốc, giả dược).
Cách
sử dụng thuốc
Thuốc được dùng dưới nhiều
dạng và nhiều cách khác nhau, cách sử dụng thuốc tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố
như: mức độ trầm trọng của bệnh, cơ quan bị bệnh, tính phù hợp của thuốc, thời
gian và vận tốc tác dụng của thuốc.
Đào
thải thuốc
Lượng thuốc uống không được
hấp thu hết vào ruột, sẽ được thải ra ngoài qua phân. Thuốc dùng đường máu, sẽ
được bài tiết qua thận, trong nước tiểu. Một số thuốc bị các men gan phân cắt
thành dạng không hoạt động, sau đó mới được thải ra ngoài.
Tính
phù hợp
Nếu điều trị tiến triển
thuận lợi loại thuốc đang dùng sẽ được cho tiếp trong suốt thời gian điều trị
bệnh. Có khoảng 2/5 số bệnh nhân không dùng thuốc đúng cách, có thể do: bệnh
nhân không hiểu lời hướng dẫn của bác sĩ, hoặc sợ các phản ứng phụ của thuốc,
hoặc v́ không thích uống loại thuốc đó.
Tác
dụng qua lại (tương tác thuốc)
Nhiều loại thuốc khio sử
dụng kết hợp với nhau hoặc khi dùng chung với thức ăn hoặc với rượu có thể gây
ra các tác dụng khác khi dùng riêng lẻ. Tác dụng qua lại này do các thuốc có
thành phần hoá học khác nhau tác động lên cùng một thụ thể. Hoặc thuốc làm
thay đổi cách hấp thụ, phân cách hoặc bài tiết của thuốc khác.
Bác sĩ thường dùng tác dụng
này làm tăng hiệu quả điều trị. Thường kết hợp nhiều loại thuốc để điều trị
nhiễm trùng ung thư hoặc cao huyết áp. Tuy nhiên, đôi khi kết hợp thuốc cũng
gây ra các bất lợi như làm giảm tác dụng của một loại thuốc hoặc làm tăng
nồng độ của một thuốc trong máu và gây ra các tác dụng phụ.
Bệnh nhân đang dùng một
loại thuốc lâu dài, nên có một tấm thẻ ghi tương tác thuốc của loại thuốc ḿnh
đang sử dụng để dự pḥng trong những trường hợp khẩn cấp. Bệnh nhân cũng nên
nhắc cho bác sĩ biết các loại thuốc đang sử dụng, để pḥng ngừa tương tác
thuốc với loại thuốc mà bác sĩ mới cho thêm.
Tác
dụng phụ
Hấu hết các thuốc đều có
tác dụng phụ.- là những tác dụng hại hoặc những tác dụng xấu.những tác dụng
phụ có thể được chia ra thành: tác dụng phụ có thể dự đoán (do cấu trúc hoá
gọc của thuốc), và tác dụng phụ ngoài dự đóan ( không có liên hệ với tác dụng
hoá học của thuốc lên tế bào).
Rất khó có thể tạo ra những
loại thuốc chỉ có tác dụng trên một cơ quan đích duy nhất. Các triệu chứng do
thuốc tác dụng trên những cơ quan khác ngoài ư muốn gọi là các tác dụng phụ có
thể dự đoán trước . Ví dụ : thuốc kháng sinh cholin được dùng điều trị giảm co
cơ đường ruột, có tác dụng phụ là gây nh́n kém và khô miệng. Các triệu chứng
này có thể mất khi cơ thể dung nạp được với thuốc. Nếu không phải giảm liều
thuốc hoặc tăng khoảng cách thời gian giữa hai lần cho thuốc.
Các bệnh gan, thận làm giảm
khả năng hấp thu, phân huỷ, bài tiết thuốc, do đó làm tăng nồng độ thuốc trong
máu, làm tăng nguy cơ các tác dụng phụ có thể dự đoán.
Tác dụng phụ ngoài dự đoán
do các rối loại di truyền (ví dụ: thiếu một loại men đặc biệt để làm bất hoạt
thuốc), do phản ứng dị ứng, hoặc do tạo ra các kháng thể gây tổn thương mô cơ
thể. Tác dụng phụ loại này thường làm nổi ban , sưng mắt, vàng da. Đôi khi có
thể bị sốc phản vệ (phản ứng dị ứng nặng)., bệnh nhân bị khó thở và suy hô
hấp. Khi dùng các tác dụng phụ loại này phải ngưng dùng thuố ngay.
Nhiều loại thuốc có thể đi
qua nhau thai và một số có sự ảnh hưởng lên sự phát triển của thai. Hầu hết
các thuốc đi qua đường sữa mẹ, và một số gây các tác dụng phụ cho trẻ.
Thuốc chỉ có ích khi tác
dụng c̣ lợi của thuốc đối với bệnh nhân lấn át nguy cơ và mức độ nặng của các
tác dụng phụ. Một khuynh hướng nghiên cứu các thuốc mới hiện nay là t́m ra các
loại thuốc có tác dụng chọn lọc trên cơ quan đích, nhằm loại bỏ các tác dụng
phụ không mong muốn lên các mô khác trong cơ thể.
Ngoài ra, một số thuốc có
thể gây nghiện (xem thuốc, nghiện).
Các
dạng thuốc
*
Thuốc
uống: gồm thuốc viên nén và thuốc nước, được tiêu hoá và hấp thu trong
ruột giống như cách ruột tiêu hoá và hấp thu chất dinh dưỡng. Tác dụng nhanh
hay chậm tuỳ thuộc vào mức độ hấp thu của ruột. Qúa tŕnh hấp thu cũng phụ
thuộc vào thành phần thuốc, sự hoà tan của thuốc và ảnh hưởng của các dịch
tiêu hoá lên thuốc.
*
Thuốc tiêm: thuốc có tác dụng
nhanh. Cho thuốc lên đường tiêm đối với các thuốc có thể bị dịch tiêu hoá phân
huỷ khi dùng đường uống.
*
Thuốc dùng tại chỗ: (dạng thuốc mỡ, thuốc
nhét, thuốc xịt, thuốc hít): thuốc này thường có tác dụng tại chỗ trên phần cơ
thể tiếp xúc với thuốc, nhưng cũng có tác dụng toàn thân nếu thuốc được hấp
thu từ vị trí tại chỗ vào máu. Thuốc nhét hậu môn (toạ dược) ngoài tác dụng
tại chỗ (như trong điều trị bệnh trĩ) c̣n được dùng đưa hoạt chất thấm vào
niêm mạc trực tràng, vào máu, qua gan, về tim để có tác dụng toàn thân (như
thuốc nhét hậu môn trị sốt , giảm đau...), thuốc xịt và hít vào miệng hay mũi
, ng̣ai một số thuốc có tác dụng tại chỗ (như trong điều trị viêm họng viêm
mũi), c̣n có một số thuốc được hấp thu qua niêm mạc miệng vào máu, qua nhiêm
mác đường hô hấp (như thuốc làm giăn phế quản trị suyễn).
Các
phương pháp cho thuốc
Mới đây, người ta c̣n điều
chế một dạng thuốc dán vào da ( giống như dán băng keo)để hoạt chất thấm dần
qua da vào máu tạo tác dụng từ từ (ví dụ thuốc dán ở ngực trong bệnh mạch
vành).
|